thành tựu của thiên văn học
Là các "phương tiện" Viện VLL kết nối giữa các thế hệ Người Học Trọn đời VLL; những người đặc biệt có ý hướng muốn "cho đi" với bên "nhận" (tổ chức/doanh nghiệp/đối tác/cộng đồng); để cùng đạt được những thành tựu kinh doanh hoặc giá trị sống
Những thành tựu chủ yếu của văn minh Hy Lạp cổ đại - Tài liệu text. Thể loại khác. II. Những thành tựu chủ yếu của văn minh Hy Lạp cổ đại. Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (539.86 KB, 197 trang ) Văn học Hy
Một tác phẩm mới về đề tài "Lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng". Ảnh: Xuân Hùng. Nhà văn Hà Đình Cẩn tâm sự: "Tôi là nhà văn quân đội và đã ở chiến trường nhiều năm, cho nên đến các trại viết của Nhà xuất bản QĐND thì tôi thường viết về chiến
Evay Vay Tiền. Ngày đăng 07/07/2014, 0218 Cùng với sự ra đời của nền văn minh phương đông, những thành tựu về KHTN của phương đông cũng xuất hiện từ rất sớmCác thàh tựu KHTN của phương đông cổ đại ra đời dựa trên sự đòi hỏi bức thiết của cuộc sống lao động và sản xuất, dựa trên các hình thức tôn giáoHoạt động kinh tế là sản xuất nông nghiệpPhát sinh nhiều loại bệnh tật khác nhau ở các quốc gia nên y học phát triển KHOA HỌC TỰ NHIÊN CỦA PHƯƠNG ĐÔNG kiện thuận lợi ra đời 1 nền văn minh sớm - Điều kiện tự nhiên - Điều kiện kinh tế, xã hội dân cư - Yếu tố con người 2. Đặc điểm Cùng với sự ra đời của nền văn minh phương đông, những thành tựu về KHTN của phương đông cũng xuất hiện từ rất sớm 2. Đ c đi mặ ể Các thàh tựu KHTN của phương đông cổ đại ra đời dựa trên sự đòi hỏi bức thiết của cuộc sống lao động và sản xuất, dựa trên các hình thức tôn giáo - Hoạt động kinh tế là sản xuất nông nghiệp - Phát sinh nhiều loại bệnh tật khác nhau ở các quốc gia nên y học phát triển 3. THÀNH TỰU KHOA HỌC Sự xuất hiện của lịch - Dựa tên cơ sở quan sát thiên văn, phương đông đã sớm tìm ra lịch + Ai cập Dựa vào sự xuất hiện của sao Lang, 2 lần xuất hiện là được 1 năm, tương đương với 365 ngày, chia thành 3 mùa mỗi mùa 4 tháng mùa Nước dâng, mùa Ngũ cốc, mùa Thu hoạch + Lưỡng hà tính theo chu kì quay của mặt trăng, có 354 ngày, chia thành 12 tháng, 6 tháng đủ 6 tháng thiếu + Ấn độ cũng dựa vào mặt trăng, chia 1 năm thành 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày, mỗi ngày có 30 giờ, 5 năm thì thêm 1 tháng nhuận + Trung quốc qua nhiều triều đại thì lịch cũng được thay đổi nhưng lịch ở đây xuất hiện từ rất sớm, đến thời Thương, họ đã biết kết hợp vòng quay của mặt trăng quay quanh trái đất và trái đất quay quanh mặt trời để làm ra lịch gọi là lịch Âm Dương => Người phương Đông đã sớm tìm ra lịch và gần giống với ngày nay. Một năm chia thành 365 ngày, có tháng đủ, tháng thiếu,có năm nhuận Sáng chế Thành tựu về thiên văn và lịch đã thúc đẩy sự ra đời của đồng hồ đo thời gian - Ban đầu là đồng hồ bằng bóng mặt trời nhật khuê của Ai Cập hoặc khuê và nhật quỹ của Trung Quốc nhưng chỉ sử dụng vào ban ngày hoặc những khi trời có nắng - Sau đó là sự ra đời của đồng hồ nước ở Ai Cập là tk XV TCN, ở Trung Quốc vào tk XII TCN Sáng chế ĐỒNG HỒ NƯỚC Một cái bình làm bằng đá hình chóp nhọn, chỗ nhọn là đáy và có một lỗ nhỏ trong bình đổ đầy nước nước theo lỗ nhỏ mà chảy ra làm mực nước vơi dần. Nhìn mực nước để biết thời gian Thiên văn học Thiên văn học Quan sát thiên văn và họ có những hiểu Quan sát thiên văn và họ có những hiểu biết nhất định biết nhất định + Ai cập phát hiện ra 12 cung hoàng đạo, + Ai cập phát hiện ra 12 cung hoàng đạo, biết được các hành tinh kim – mộc – thủy biết được các hành tinh kim – mộc – thủy – hỏa – thổ, có một số kiến thức về hiện – hỏa – thổ, có một số kiến thức về hiện tượng Nhật thực, Nguyệt thực, sao Chổi, tượng Nhật thực, Nguyệt thực, sao Chổi, sao Băng… sao Băng… + Lưỡng Hà phát hiện ra 7 hành tinh trong + Lưỡng Hà phát hiện ra 7 hành tinh trong vũ trụ là mặt trời, mặt trăng và 5 hành vũ trụ là mặt trời, mặt trăng và 5 hành tinh kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tinh kim, mộc, thủy, hỏa, thổ + Trung Quốc có những hiểu biết về Nhật + Trung Quốc có những hiểu biết về Nhật thực, Nguyệt thực đã được ghi chép lại thực, Nguyệt thực đã được ghi chép lại trong sách “Xuân Thu” trong sách “Xuân Thu” Nhà thiên văn TRƯƠNG HÀNH 78 – 139 - Ánh sáng của mặt trăng là nhận của mặt trời - Giải thích hiện tượng Nguyệt thực - Vũ trụ là vô hạn - Chế tạo ra dụng cụ đo động đất, “địa động nghi” [...]... kì diệu đối với y học thế giới 4 LIÊN HỆ Những thành tựu của KHTN phương Đông cổ đại đã có ảnh hưởng sâu sắc tới các thành tựu KHTN phương Tây thời cổ đại, và đồng thời một số hiểu biết còn được ứng dụng rộng rãi trong thời đại ngày nay - Định lý trong tam giác vuông phát triển thành định lý talet - Cách phẫu thuật, ủ men, thuốc nhuộm, nguyên lý đòn bẩy, nam châm… - Lịch phương Đông là cơ sở cho lịch... của cư dân phương Đông cổ đại trong lĩnh vực khoa học tự nhiên + Do tục ướp xác, chế tạo dược phẩm và đồ dùng kim loại, ngành hoá học ở Ai Cập đã xuất hiện Người Ấn Độ đã tìm ra chất xút tốt để thuộc da thú vừa bền, vừa đẹp Ngay từ sớm họ đã biết dùng xà phòng, thuỷ tinh, ủ men và chưng cất rượu… + Trong lĩnh vực hoá học, cư dân phương Đông cổ đại còn biết đến một số tri thức hoá học mà đã xuất hiện... học đã chia thành Nội khoa, Ngoại khoa, khoa Mắt,… Từ thế kỉ VI – V TCN, người Ấn Độ đã biết chắp xương sọ, cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai nhi, lấy sỏi thận + Các tác phẩm “y học toát yêu”, “luận khảo về trị liệu” là những tác phẩm có giá trị lớn về y học + Phương đông cũng là nơi sinh ra của nhiều thầy thuốc nổi tiếngBiển Thước,Hoa Đà,Lý Thời TrânTrung Quốc.Đặc biệt là kĩ thuật ướp xác của người... lực của nó, hút tất cả mọi vật về phía nó” + Từ thế kỉ III TCN, người Trung Quốc đã biết đến từ tính và tính chỉ hướng của nam châm Trên cơ sở đó, họ chế tạo ra vật dụng chỉ hướng đầu tiên gọi là “Tư Nam” để phục vụ cho việc đi biển KIM TỰ THÁP làm ra bởi sự hiểu biết về toán học và vật lý điều bí ẩn cho khoa học ngày nay HÓA HỌC Hoá học cũng là những sự hiểu biết cơ bản đầu tiên của cư dân phương. .. thành vàng… Y HỌC + Mặc dù bị tư tưởng tôn giáo chi phối, nhưng y học phương Đông đã phát triển theo một hướng tiến bộ, khoa học, chữa được nhiều căn bệnh nguy hiểm Người Ai Cập đã biết rõ về cấu tạo cơ thể, biết được tầm quan trọng của tim - mạch, biết chữa đau răng, dạ dày, mắt, các bệnh phụ nữ… Cư dân Lưỡng Hà Cư dân Lưỡng Hà biết chữa bệnh về tiêu hoá, hô hấp, mắt, tai, thần kinh; ngành y học. .. TOÁN HỌC + Về số học Cư dân phương Đông đã có nhiều hiểu biết sâu sắc, nhiều phát minh quan trọng Người Ai Cập biết đặt ra hệ đếm cơ số 10 thập tiến vị, biết làm phép tính cộng trừ Còn nhân và chia thì họ lại cộng hoặc trừ nhiều lần, họ còn biết đặt ra ẩn số “x” và giải phương trình dạng “ax + by + cz = d” Người Lưỡng Hà phát minh ra hệ đếm sơ số 60 Họ còn biết cộng... Một phát minh tưởng chừng như đơn giản của cư dân Ấn Độ mà lại vô cùng có ý nghĩa, đó là chữ số “0”, góp phần hoàn thiện hệ thống chữ số “0 – 9” + Về hình học tìm ra số mỗi nước khác nhau nhưng gần giống với số pi ngày nay VẬT LÝ + Ở Ai Cập, những tri thức về vật lý đã bắt đầu hình thành, người Ai Cập cổ đại đã biết tới rất nhiều về “lực học Theo nhiều tài liệu đã chứng minh rằng... là cơ sở cho lịch hiện đại - Thiên văn học đang được ứng dụng rộng rãi 5 HẠN CHẾ - - Còn tồn tại nhiều tư tưởng sai lầm như ma quỷ gây bệnh, trái đất nổi trên mặt nước… Tư tưởng tôn giáo còn chi phối KHTN Điều kiện tự nhiên, xã hội còn nhiều hạn chế như kinh tế nghèo nàn, tư tưởng lạc hậu, bảo thủ, nhận thức của thời đại còn hạn chế Cảm ơn cô và các bạn Đã theo dõi bài làm ... nhiều về “lực học Theo nhiều tài liệu đã chứng minh rằng trong việc xây dựng Kim Tự Tháp, cư dân Ai Cập đã sử dụng rất nhiều ròng rọc, đòn bẩy, con lăn để kéo đá lên Họ còn biết đắp đất cho đá trượt lên mặt phẳng nghiêng, biết kéo những khối đá nặng hàng tấn trong nước để nó trở nên nhẹ hơn + Các nhà khoa học kiêm triết học Ấn Độ đã nêu ra “thuyết nguyên tử”, dựa vào cấu tạo nguyên tử hoặc sự sắp xếp . biết chữa bệnh về tiêu hoá, hô hấp, mắt, tai, thần kinh; ngành y học đã chia thành Nội khoa, Ngoại khoa, khoa Mắt,… Từ thế kỉ VI – V TCN, người Ấn Độ đã biết chắp xương sọ, cắt màng mắt, mổ. trình dạng “ax + by + cz = d” . Người Lưỡng Hà phát minh ra hệ đếm sơ số 60. Họ còn biết cộng - trừ - nhân – chia đến 1 triệu . Một phát minh tưởng chừng như đơn giản của cư dân Ấn Độ mà lại. học và vật lý điều bí ẩn cho khoa học ngày nay HÓA HỌC Hoá học cũng là những sự hiểu biết cơ bản đầu tiên của cư dân phương Đông cổ đại trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. + Do tục ướp - Xem thêm -Xem thêm Bài giảng thành tựu khoa học tự nhiên của văn minh phương đông, Bài giảng thành tựu khoa học tự nhiên của văn minh phương đông, , Điều kiện thuận lợi ra đời 1 nền văn minh sớm, THÀNH TỰU KHOA HỌC
Thiên văn học là gì? Thiên văn học nghiên cứu đối tượng nào? Nội dung nghiên cứu thiên văn học? Phương pháp nghiên cứu thiên văn học? Mối liên hệ của thiên văn với các môn khoa học khác?Loài người xuất hiện và từ lâu đã hướng mắt lên bầu trời, con người vẫn luôn tìm cách thiết đặt ý nghĩa và trật tự cho vũ trụ xung quanh mình. Mặc dù chuyển động của các chòm sao là dễ theo dõi nhất, nhưng những sự kiện thiên thể khác như nhật nguyệt thực và chuyển động của các hành tinh cũng đã được ghi chép và dự đoán. Thiên văn học là một vấn đề luôn được quan tâm từ khi con người xuất hiện cho đến nay. Vậy, thiên văn học là gì? Đối tượng, nội dung và phương pháp của nó ra sao? Tư vấn luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại Mục lục bài viết 1 1. Thiên văn học là gì? 2 2. Đối tượng, nội dung nghiên cứu thiên văn học 3 3. Phương pháp nghiên cứu thiên văn học 4 4. Mối liên hệ của thiên văn với các môn khoa học khác Ta hiểu về thiên văn học như sau Thiên văn học được hiểu cơ bản chính là hoạt động nghiên cứu mặt trời, mặt trăng, các sao, các hành tinh, sao chổi, các thiên hà, chất khí, bụi và các vật thể và hiện tượng khác ngoài Trái đất. Cũng có thể định nghĩa thiên văn học đơn giản là “nghiên cứu các sao, các hành tinh và không gian.” Thiên văn học và chiêm tinh học gắn liền với nhau về mặt lịch sử, nhưng chiêm tinh học không phải là khoa học và không còn được xem là có dính líu với thiên văn học. Sự phát triển của thiên văn học Các chủ thể là những nhà thiên văn học của những nền văn minh đầu tiên đã tiến hành những cuộc quan sát có phương pháp bầu trời đêm, và các dụng cụ thiên văn học đã được tìm thấy từ những giai đoạn còn sớm hơn nữa. Tuy nhiên, sự xuất hiện của kính viễn vọng là thời điểm thiên văn học bắt đầu bước vào giai đoạn khoa học hiện đại. Về lịch sử, thiên văn học từng gồm cả các ngành đo sao, hoa tiêu thiên văn, quan sát thiên văn, làm lịch, và thậm chí cả chiêm tinh học, nhưng ngành thiên văn học chuyên môn hiện đại ngày nay thường chỉ có nghĩa vật lý học thiên thể. Từ thế kỷ XX, lĩnh vực thiên văn học chuyên nghiệp được chia thành các nhánh quan sát và thực nghiệm. Thiên văn học quan sát chú trọng tới việc thu thập và phân tích dữ liệu, sử dụng các nguyên tắc cơ bản của vật lý. Thiên văn học lý thuyết định hướng theo sự phát triển các mô hình máy tính hay mô hình phân tích để miêu tả các vật thể và hiện tượng thiên văn. Hai lĩnh vực bổ sung cho nhau, thiên văn học lý thuyết tìm cách giải thích các kết quả quan sát, và việc quan sát lại thường được dùng để xác nhận các kết quả lý thuyết. Các nhà thiên văn nghiệp dư cũng đã đóng góp nhiều khám phá quan trọng cho thiên văn học, và thiên văn học là một trong số ít ngành khoa học nơi các nhà thiên văn nghiệp dư có thể đóng vai trò quan trọng, đặc biệt trong sự phát hiện và quan sát các hiện tượng thoáng qua. Thiên văn học cổ hay thậm chí thiên văn học cổ đại không nên bị nhầm lẫn với ngành chiêm tinh học, hệ thống niềm tin rằng những công việc của con người liên quan tới các vị trí của các vật thể vũ trụ. Dù hai lĩnh vực này trên thực tế cùng có nguồn gốc chung và một phần phương pháp thực hiện cụ thể, việc sử dụng lịch thiên văn, chúng là khác biệt. Thiên văn học trong tiếng Anh là astronomy. 2. Đối tượng, nội dung nghiên cứu thiên văn học Nội dung nghiên cứu của thiên văn học sẽ có thể chia làm 3 phần chính đó là – Về quy luật chuyển động của các thiên thể trong mối quan hệ giữa Trái đất và bầu trời. – Về cấu trúc và bản chất vật lý của các thiên thể và các quá trình xảy ra trong vũ trụ. – Về nguồn gốc hình thành và phát triển của các thiên thể, của hệ thống của chúng và của vũ trụ. Việc thực hiện phân chia các nội dung này rất trùng khớp với lịch sử phát triển của môn thiên văn học. Sự phức tạp của nội dung tăng dần cùng với sự phát triển của môn học. Đối tượng nghiên cứu của thiên văn cũng được xác định ngày càng rộng ra và phức tạp hơn. Từ thiên thể khá là chung chung, chỉ các vật trên bầu trời, được mở rộng ra, cụ thể hơn, đa dạng hơn. Từ mặt trời, mặt trăng, các hành tinh, các thiên thạch… đến các vệ tinh nhân tạo, các sao, bụi sao Tinh vân các quần sao, các thiên hà. Càng ngày người ta càng phát hiện ra nhiều vật thể lạ có những vật được tiên đoán trước bằng lý thuyết như sao nơ trôn pun xa, các quaza, các lỗ đen Như vậy, qua phân tích nêu trên, ta thấy thiên văn không phải thuần túy là môn khí tượng học hay môn chiêm tinh như người ta thường nhầm. 3. Phương pháp nghiên cứu thiên văn học Bởi vì đối tượng nghiên cứu là những vật thể rất to lớn và ở trong vũ trụ xa xôi trừ Trái đất nên phương pháp nghiên cứu của thiên văn cũng rất đặc biệt, thậm chí không giống bất kỳ một môn khoa học nào. Phương pháp chủ yếu của thiên văn cổ điển là quan sát và quan trắc. Người ta không thể làm thí nghiệm với các thiên thể tức không thể bắt chúng tuân theo những điều kiện mà ta tạo ra, cũng không thể trực tiếp “sờ mó” được chúng. Nguồn thông tin chủ yếu là ánh sáng từ các thiên thể. Bởi vì ảnh hưởng của khí quyển, do chuyển động của Trái đất và do chính tính chủ quan của việc quan sát làm cho kết quả nghiên cứu có thể bị hạn chế, thậm chí dẫn đến những kết luận sai lầm. Một khó khăn nữa phải kể đến của việc quan sát là các hiện tượng thiên văn xảy ra trong một thời gian rất dài so với đời sống ngắn ngủi của con người và đôi khi không lặp lại. Tuy vậy, khi khoa học càng phát triển thì việc nghiên cứu thiên văn càng trở nên dễ dàng hơn. Nguồn thông tin chính được gửi đến trái đất là bức xạ điện từ được khai thác triệt để ở cả hai vùng khả kiến và vô tuyến đã giúp cho sự hiểu biết về vũ trụ được phong phú hơn. Bên cạnh đó thì cùng với sự phát triển của ngành du hành vũ trụ cũng là một thành tựu của thiên văn con người đã bước ra khỏi sự ràng buộc, hạn chế của Trái đất để có được những thông tin khách quan hơn về vũ trụ. Việc xử lý thông tin bằng kỹ thuật tin học đã giúp thiên văn phát triển vượt bậc. Khác hẳn với thiên văn cổ điển là kiên trì thu thập số liệu quan trắc và suy luận để tìm ra qui luật, thiên văn hiện đại sử dụng phương pháp mô hình hóa, đề ra những thuyết có tính chất dẫn đường và việc quan sát thiên văn là tìm kiếm những bằng chứng để kiểm định sự đúng đắn của lý thuyết. Nhìn chung, ta nhận thấy rằng, phương pháp nghiên cứu khoa học của thiên văn cũng nằm trong khuôn khổ những phương pháp luận khoa học nói chung, nó luôn phát triển và sẽ còn được hoàn thiện mãi. 4. Mối liên hệ của thiên văn với các môn khoa học khác Như các phân tích cụ thể bên trên, ta nhận thấy, thiên văn học có liên hệ với rất nhiều ngành khoa học. Thiên văn họ vốn là một môn khoa học xuất hiện rất sớm, ngay từ trong các nền văn minh cổ, thiên văn là nội dung chính của các cuộc đàm đạo của các nhà thông thái. Sau này, khi khoa học đã có sự phân hóa rõ rệt, thiên văn là môn khoa học góp phần đắc lực nhất vào việc trả lời những câu hỏi lớn của triết học. Mối quan hệ của thiên văn với vật lý là quá rõ ràng. Trong quá trình học thiên văn ta sẽ thấy rõ điều này. Các định luật vật lý được ứng dụng trong thiên văn, đem lại phương tiện để giải quyết những vấn đề của thiên văn. Nhưng đồng thời chính thiên văn thường dẫn đường và nêu ra những ý tưởng mới cho vật lý. Công cụ tính toán của thiên văn chínhlà toán học, nhất là phần thiên văn tính toán. Rất nhiều chủ thể là những nhà thiên văn đồng thời là các nhà toán học. Trước kia môn thiên văn cũng thường được dạy trong khoa toán. Trong quá trình tìm hiểu cấu tạo của các thiên thể ta không thể không biết đến hóa học. Ngày nay trong thiên văn có riêng ngành hóa học thiên văn. Sinh vật học cũng tìm được cách lý giải rất nhiều vấn đề của mình nhờ thiên văn. Đặc biệt trong sinh học, mối quan hệ Thiên – Địa – Nhân ngày càng được chú ý. Để nhằm mục đích có thể hiểu rõ bản chất nguồn gốc và sự tiến hóa của sự sống không thể không biết gì về thiên văn. Đối với địa lý môn thiên văn chính là người anh em. Đối tượng nghiên cứu của địa lý tự nhiên là Trái đất, một thành viên của hệ Mặt trời. Không thể hiểu rõ được Trái đất nếu không nắm được mối quan hệ của nó với các thành viên trong hệ nói riêng và trong toàn vũ trụ nói chung. Ngay cả môn lịch sử, vốn là môn khoa học xã hội tưởng như xa lạ với thiên văn, nhưng để các chủ thể có thể xác định chính xác các sự kiện trong lịch sử phải biết cách tính thời gian trong thiên văn. Nhiều công trình cổ của các nền văn minh lớn của loài người đều ghi lại các kiến thức thiên văn thời đó. Vũ trụ được đánh giá chính là một phòng thí nghiệm thiên nhiên vô cùng vĩ đại cho tất cả các ngành khoa học. Chính thiên văn kích thích các ngành kỹ thuật khác phát triển theo. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu và giảng dạy thiên văn là rất rõ ràng. Đó không chỉ là vấn đề học thuật, mà còn là vấn đề quan trọng để xây dựng nhân sinh quan, thế giới quan đúng đắn cho con người.
Các con thú trên hoàng đạo theo thiên văn học Hy Lạp cổ đại, viện bảo tàng Louvre. Kế thừa những thành tựu của thiên văn học Lưỡng Hà, người Hy Lạp cổ đại đã có bước phát triển quan trọng trong lý thuyết và phương pháp tính toán để đưa thiên văn học tiến một bước dài. Những gì mà họ tạo ra sau này đã được người Ả Rập và châu Âu tiếp tục sử dụng. Vào buổi sơ khai, người Ai Cập cổ đại quan niệm vũ trụ được mặt đất chia thành hai phần, phần trên là bầu trời sáng láng còn phía dưới là địa ngục tối tăm. Ban ngày Thần Mặt trời cưỡi cỗ xe rực lửa chạy khắp bầu trời và ban đêm bơi trên một cái chén vàng theo đại dương bao quanh mặt đất. Sự kiện thiên văn[sửa] Vào thế kỷ 6 TCN, Thales khoảng 624 TCN – khoảng 546 TCN đã dự báo chính xác nhật thực xảy ra vào ngày 28 tháng 5 năm 585 TCN khi quan sát nhật thực lớn vào 18 tháng 5 năm 603 TCN, một tiến bộ quan trọng lúc đó. Ông chứng tỏ rằng các ngôi sao phát sáng nhờ ánh sáng của mình, trong khi Mặt Trăng được chiếu sáng nhờ ánh sáng Mặt Trời. Theo Thales, mặt đất là một chiếc ván phẳng bơi trên mặt nước. Học trò của ông - Anaximander khoảng 611 TCN – khoảng 546 TCN đã đưa ra một mô hình vũ trụ theo thuyết địa tâm đầu tiên trong lịch sử thiên văn học. Theo đó Trái Đất là trung tâm và bao quanh bởi ba vòng cầu lửa, vòng gần Trái Đất nhất có nhiều lỗ thủng nhỏ chính là những ngôi sao, vòng xa hơn có một lỗ thủng lớn - Mặt Trăng và vòng xa nhất có một lỗ thủng lớn nhất - Mặt Trời. Đó là một bước phát triển quan trọng bởi trước ông, những nghiên cứu thiên văn học chỉ dựa trên quan sát chứ không phải suy luận. Không những thế ông còn tìm cách giải thích nguồn gốc của vũ trụ cái không giới hạn Apeiron là khởi đầu của tồn tại; vũ trụ sinh ra, trưởng thành rồi chết đi và lại sinh ra theo vòng tuần hoàn. Nhà triết học Pythagoras khoảng 580 TCN – khoảng 500 TCN cũng cho rằng Trái Đất là một quả cầu nằm tại trung tâm vũ trụ và phát hiện ra rằng sao Hôm và sao Mai chỉ là một hành tinh. Sau đó Anaxagoras 500 TCN – 428 TCN đưa ra mô hình vũ trụ là một quả bóng hình cầu đang nở ra với Trái Đất là trung tâm. Ông cho rằng, Mặt Trời là một tảng đá nóng bỏng lớn hơn bán đảo Peloponnésos. Democritus khoảng 460 TCN – khoảng 370 TCN đưa ra ý niệm có vô số thế giới tồn tại trong vũ trụ vô cùng vô tận và được cấu thành bởi vô vàn các hạt nguyên tử. Nhà triết học Philolaus 470 TCN – mất? coi Trái Đất là một trong những ngôi sao và chuyển động vòng tròn quanh một tâm điểm gây ra ngày và đêm. Vũ trụ của ông quay xung quanh một "ngọn lửa thần thánh" và gồm có bầu trời, các hành tinh, sau chúng là Mặt Trời, dưới Mặt Trời là Mặt Trăng, dưới Mặt Trăng là Trái Đất và Đối Trái Đất Antichtone giả thuyết nằm ẩn mặt phía sau ngọn lửa thần thánh. Philolaus cho rằng, Trái Đất quay quanh trục của mình. Nhà triết học Plato s. khoảng 428 TCN- 423 TCN; mất khoảng 348 TCN- 347 TCN trong tác phẩm Triết học tự nhiên Timaeus của mình đã cho rằng vũ trụ là do Đấng Sáng Tạo tạo ra bởi một hỗn hợp gồm hai bản thể bản thể tinh thần không thể phân chia và bản thể vật chất có thể phân chia. Vũ trụ phân thành 7 vòng với khoảng cách không đều nhau có tâm là Trái Đất. Khoảng cách tương đối từ Trái Đất đến quỹ đạo của các thiên thể theo tỷ lệ gấp đôi hoặc gấp ba, tỷ lệ mà theo ông các vòm cầu của vũ trụ đạt được sự hài hòa. Đến thế kỷ 4 TCN, nền khoa học nói chung và thiên văn học nói riêng của Hy Lạp đã đạt đến trình độ chuyển từ suy luận chung sang nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống các hiện tượng tự nhiên. Eudoxus khoảng 408 TCN - khoảng 347 TCN, người cùng thời với Plato đã có những đóng góp tiêu biểu cho khuynh hướng này. Ngoài việc vẽ được hình chiếu của chí tuyến trời và vòng Cực Bắc lên bề mặt Trái Đất cũng như đưa ra tỷ lệ giữa khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, ông đã xây dựng giả thuyết về chuyển động của các hành tinh, còn gọi là giả thuyết về các hình cầu đồng tâm. Đây là mô hình có tính chất hình học đầu tiên về chuyển động của các hành tinh. Lý thuyết của ông cho rằng chuyển động biểu kiến của các hành tinh là tổng của các chuyển động xoay tròn đồng mức. Chuyển động của mỗi hành tinh là một tổ hợp của một số vòm cầu lồng vào nhau, các cực của mỗi vòm được xếp liên tiếp chồng lên nhau. Để mô tả chuyển động của Mặt Trăng, Mặt Trời, cần 3 vòm cầu, cái thứ nhất mô tả chuyển động quay quanh trục của nó; cái thứ hai mô tả các tiết điểm giao điểm của hoàng đạo và đường đi của Mặt Trăng trên hoàng đới; cái thứ ba có trục hơi nghiêng so với các cực của vòm cầu thứ hai mô tả độ lệch góc của quỹ đạo so với mặt phẳng hoàng đạo. Các hành tinh có chuyển động biểu kiến phức tạp hơn thì cần tới 4 vòm cầu và hệ thống của ông có tổng cộng 27 vòm cầu. Sau đó Callippus khoảng 370 TCN - khoảng 300 TCN đưa thêm vào 6 vòm cầu nữa thành 33 và Aristotle tăng số lượng của chúng lên 55. Aristotle 384 TCN - 322 TCN cũng cho rằng chuyển động hướng tâm và ly tâm là chuyển động tự nhiên còn những chuyển động khác phải có lực tác động vào. Sở dĩ các thiên thể chuyển động được là do "sức đẩy nguyên thủy" có tính chất thần thánh, nằm ngoài không gian và thời gian. Lý thuyết về vũ trụ của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến các học giả thời Trung Cổ và họ đã điều chỉnh nó cho phù hợp với giáo lý Ki - tô. Được hậu thuẫn bởi giới chức tôn giáo, mô hình của Aristotle đã tồn tại nhiều thế kỷ, và thật không may mắn, điều này đã kìm hãm sự phát triển của khoa học bởi lẽ rất ít người dám thách thức quyền lực của nhà thờ. Dùng phương pháp đo góc, Eratosthenes 276 TCN - 194 TCN đã tính toán được đường kính Trái Đất. Mặc dù độ chính xác của con số này là chủ đề tranh luận của các học giả nhưng chắc chắn rằng nó ở mức cao, thậm chí tuyệt vời. Mô hình vũ trụ của Ptolemy. Sau khi La Mã xâm chiếm Hy Lạp, các nhà thiên văn học người Hy Lạp vẫn tiếp tục hành trình khám phá của mình. Ngoài việc dùng phương pháp đo góc để tính toán khoảng cách tương đối từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, Aristarchus 310 TCN - khoảng 230 TCN còn là người đầu tiên trình bày một cách rõ ràng và có hệ thống về thuyết nhật tâm. Theo đó, Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, Trái Đất quay quanh trục của nó và các hành tinh quay quanh Mặt Trời. Hipparchus khoảng 190 TCN - khoảng 120 TCN cũng có những đóng góp quan trọng. Ngoài việc xác định hoàng vĩ và hoàng kinh kinh độ và vĩ độ theo hệ tọa độ hoàng đạo của 850 ngôi sao, ông đã đưa ra ý niệm về cấp sao biểu kiến. Ông cũng là người khám phá ra hiện tượng tuế sai trong chuyển động của các hành tinh, tính toán độ dài của một năm, khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trăng với độ chính xác cao. Sử dụng thành tựu của những người đi trước, Ptolemy khoảng 100 - khoảng 178 đã tiếp tục xây dựng, phát triển lý thuyết về chuyển động biểu kiến của hành tinh. Ông đã sáng chế ra những dụng cụ đo góc để quan sát các vì sao như thước xích cầu, thước ngắm tam giác... và bổ sung vào danh mục các vì sao của Hipparchus đưa tổng số lên đến 1022. Mô hình vũ trụ của ông lấy Trái Đất làm trung tâm, các thiên thể chuyển động quanh đó. Các hành tinh không quanh quanh Trái Đất mà chuyển động đều trên các vòng tròn phụ gọi là ngoại luân và tâm của các ngoại luân mới mới chuyển động đều quanh Trái Đất theo vòng tròn lớn gọi là bản luân. Mô hình của Ptolemy đã được chấp nhận rộng rãi cho đến tận thời Phục Hưng khi Nicolaus Copernicus khẳng định Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời. Ngoài các công trình nghiên cứu thiên văn được tập hợp thành bộ sách đồ sộ Almagest, ông còn để lại những chỉ dẫn về chiêm tinh học trong tác phẩm Tetrabiblos.
thành tựu của thiên văn học